Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

Giống lúa miến triển vọng để sản xuất ethanol ở miền Bắc Việt Nam

        Cây lúa miến có nhiều mục đích sử dụng như là cây trồng làm thức ăn chính cho hàng triệu người vùng nhiệt đới bán khô hạn của châu Phi và châu Á, làm thức ăn gia súc, gia cầm, sản xuất đồ uống, xyrô và đặc biệt là làm nguyên liệu sản xuất ethanol. Đề tài “ Tuyển chọn một số giống cao lương ngọt triển vọng để sản xuất ethanol nhiên liệu” do TS. Nguyễn Thị Phượng làm chủ nhiệm đã tuyển chọn được 2 giống triển vọng để sản xuất ethanol  là C4 và C7.
 
       Ethanol nhiên liệu là một loại alcohol thường thấy trong đồ uống có cồn. Ethanol nhiên liệu được sử dụng để chạy động cơ bằng cách trộn 5-10% với xăng tạo ra một hỗn hợp cháy hoàn toàn, dùng cho ô tô, xe máy.
           Dùng ethanol nhiên liệu đang là một hướng để giải quyết khủng hoảng năng lượng của thế giới. Nguyên liệu để sản xuất ethanol là các cây cho tinh bột, đường cao như sắn, ngô, cao lương, mía … Trong số các cây nguyên liệu đó, cây cao lương có ưu thế là loại cây dễ trồng, thích ứng rộng, chịu hạn, có thể thâm canh cao. Thân cao lương chứa 75% dịch, trong đó hàm lượng đường từ 8-23% nên rất có triển vọng để phát triển sản xuất làm nguyên liệu sản xuất ethanol nhiên liệu.
           Đề tài “ Tuyển chọn một số giống cao lương ngọt triển vọng để sản xuất ethanol nhiên liệu” do TS. Nguyễn Thị Phượng làm chủ nhiệm (Viện Môi trường Nông nghiệp, thuộc Viện KHNNVN) thực hiện 2009-2011 theo đặt hàng của Bộ Công thương đã đạt được một số kết quả khả quan. Từ nguồn vật liệu gồm 66 giống cao lương của ngân hàng gen trong nước và 12 giống cao lương nhập nội từ Viện nghiên cứu cây trồng bán khô hạn (ICRISAT), đề tài đã tuyển chọn được 2 giống triển vọng đặt tên là C4 và C7.
        Giống C4 là giống cao lương thuần, cây cao 3,5-4m, đường kính thân 3-3,5 cm, hàm lượng đường trong thân 12-16 độ Brix, thời gian sinh trưởng 150 ngày, năng suất đạt 50 tấn/ha, sản lượng cồn có thể đạt 4000 lít/ha. Giống C7 là giống lai F1, cây cao 2,5-3 m, đường kính thân 2-2,5 cm, hàm lượng đường trong thân 15-17 độ Brix, thời gian sinh trưởng 120 ngày, năng suất đạt 30-35 tấn/ha, có khả năng chịu hạn. Hai giống cao lương này đã được đưa trồng thử nghiệm tại một số tỉnh như Phú Thọ, Bắc Giang và Hòa Bình.
          Tại hội nghị đầu bờ ngày 20/7/2011 tổ chức tại xã Văn Luông, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, bà Đỗ Thị Liên- Chủ tịch xã cho biết hai giống cao lương C4 và C7 dễ trồng, ít sâu bệnh, sinh trưởng phát triển tốt, nếu có hiệu quả kinh tế hơn các cây trồng khác đang trồng ở địa phương (như ngô, sắn) thì có thể tổ chức phát triển rộng trong xã như một cây nguyên liệu cung cấp cho nhà máy sản xuất ethanol nhiên liệu.
  Nguồn: http://www.vaas.org.vn/NewsDetails.aspx?NewsID=911&CateID=36 

Thứ Năm, 6 tháng 1, 2011

TRỒNG LÚA MIẾN ĐỂ SẢN XUẤT NHIÊN LIỆU SINH HỌC!

Các nhà nghiên cứu ở đại học bang IOWA đã thử nghiệm 12 giống lúa miến trong các hệ thống có 1 hoặc 2 loại cây trồng nhằm tăng năng suất của nó để sản xuất ethanol.  xem chi tiết...
(hình ảnh mang tính chất minh họa)

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2010

HÌNH ẢNH ĐỀ TÀI!

Trong thời gian từ tháng 6 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011, tôi đã đang và sẽ tiếp tục thực hiện đề tài cao học về cây sắn và cây lúa miến. Dưới đây là một số hình ảnh đề tài đã thực hiện được.

TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA MIẾN TRÊN THẾ GIỚI NĂM 2008!

1. Năm 2008, thế giới có 108 nước trồng lúa miến, diện tích canh tác cây lúa miến là 44.911.880 ha, năng suất trung bình đạt 1,46 tấn/ha, sản lượng đạt 65.534.273 tấn. So với năm 2003, diện tích cây lúa miến trên toàn thế giới tăng 440,25 nghìn ha, năng suất tăng 0,14 tấn/ha, sản lượng tăng 6.623.703 tấn (FAO, 2010).
2. Trên thế giới, năm 2008, lúa miến có sản lượng đạt 65,53 triệu tấn đứng thứ 8 trong các cây lương thực chính, xếp sau ngô (822,71 triệu tấn), lúa gạo (685,01 triệu tấn), lúa mì (689,94 triệu tấn), khoai tây (314,14 triệu tấn), sắn (232,95 triệu tấn), lúa mạch (157,64 triệu tấn) và khoai lang (110,12 triệu tấn).
3. Năm 2008, châu Phi có diện tích canh tác cây lúa miến lớn nhất thế giới (27,59 triệu ha), châu Mỹ có năng suất lúa miến cao nhất (3,59 tấn/ha), châu Phi có sản lượng cao nhất thế giới (25,19 triệu tấn).

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2010

Tổng quan cây lúa miến ngọt!

Phân loại cây lúa miến ngọt (Kimber, 2000)

Kingdom:                                                        Plantae

Division:                                                         Angiosperms

Order:                                                            Poales

Family:                                                           Poaceae

Tribe:                                                             Andropogoneae

Subtribe :                                                       Sorghinae

Genus:                                                           Sorghum moench

Subgenera:                                                    Sorghum

                                                                     Chaetosorghum

                                                                     Heterosorghum

                                                                     Parasorghum

                                                                     Stiposorghum

Species from subgenera sorghum                   Sorghumpropinquim

                                                                    Sorghum halepense

                                                                    Sorghum bicolor

Subspecies from sp. S.Bicolor                         Sorghum bicolor bicolo

                                                                    Sorghum bicolor drumm

                                                                    Sorghum bicolor vertic

Races from subsp. S.bicolor bicolor                 Bicolor

                                                                    Guinea

                                                                    Durra

                                                                    Kafir

                                                                    Caudatum


Theo trích dẫn của Bantilan và ctv (2004), sưu tập cây lúa miến đã được miêu tả đầu tiên bởi Linne năm 1753 với tên gọi là Holcus. Tuy nhiên, năm 1794 Moench đã phân loại lại bộ sưu tập này như một chi riêng biệt Sorghum(Celarier, 1959). Chi Sorghum thuộc tộc Andropogoneae, và phân ra thành ba loài (de Wet, 1978): Sorghum halepense (L.) Pers. sống lâu năm phía đông nam Eurasia đến Ấn Độ. S. propinquum (K.) Hitch. Sống lâu năm ở Srilanka và nam Ấn Độ và từ phía đông Burma đến các đảo phía đông nam châu Á. S. bicolor (L.) Moench (Plate) gồm tất cả cây thử thách hàng năm trong phân loại cây lúa miến đã công nhận bởi Snowden (1936, 1955). S. bicolor bao gồm tất cả thử thách thuần hóa, phân bố rộng và phức hợp sinh thái biến thiên ở châu phi và có nguồn gốc từ sự xen giống giữa cây lúa miến và các loài có quan hệ gần với chúng.
 
Nguồn gốc
Theo trích dẫn của Bantilan và ctv (2004), cây lúa miến có lẽ được thuần hóa đầu tiên ở savanna giữa tây Ethiopia và phía đông Chad cách nay 5000 – 7000 năm (Doggett và Prasada Rao, 1995). Các dòng hoang dại của sorghum bicolor ssp. verticilliflorum được cho là tổ tiên của cây lúa miến trồng ngày nay (Harlan, 1972). Từ điểm phát sinh cây lúa miến được đưa đến các vùng khác (chủ yếu là thông qua tàu buôn): đến Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Á, Trung Đông, châu Mỹ, Tây, Bắc và Nam Phi.
Ở châu Phi, cây lúa miến được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như guinea-corn, dawa hay sorgho ở Tây Phi, durra ở Sudan, mshelida ở Ethiopia và eritrea, mtama ở Đông Phi, kafffircorn ở Nam Phi, mabele hay amabele ở các quốc gia Nam Phi. Ở Ấn Độ, nó được biết đến với tên gọi như jowar (Hindi), jonna (Andhra Pradesh), cholam (Tamil Nadu) và jola (Karnataka).
Năm dòng lúa miến canh tác cơ bản - Bicolor, Kafir, Guinea, Caudatum và Durra - đã được công nhận (Harlan và De Wet, 1972). Dòng Bicolor được miêu tả là khoảng trống và chiều dài cụm hoa, mày hoa thường xuyên kèm theo hạt khi chín. Kafir được tìm thấy nam xích đạo châu phi, biểu hiện cân đối và sát góc cầu hạt với mày ngắn hơn hạt. Guinea chiếm ưu thế ở tây phi và dễ nhận ra bởi chiều dài và sự không cân xứng, mày mở ra nhìn thấy khi hạt chín. Hạt của dòng caudatum thì phồng lên không cân xứng. Dòng này tìm thấy ở trung phi và là gần nơi phát sinh. Dura biểu hiện hạt dạng trứng ngược và có dạng hình V tại đáy (Bantilan và ctv, 2004).

Phân bố
Theo Bantilan và ctv (2004), ngày nay, cây lúa miến được phân bố từ mực nước biển đến độ cao 2200m so với mực nước biển và từ 500N ở Nga đến 400S ở Argentina. Trong khi cải thiện giống chiếm ưu thế ở châu Mỹ, Trung Quốc và Australia, các phương pháp chọn lọc truyền thống ở châu phi và một số quốc gia ở châu Á. Năm 2004, khoảng 75% vùng trồng lúa miến ở ấn độ là các giống lai so với 1% ở năm 1960.